Về nghe chiêng gọi hồn Mường
Cập nhật lúc: 10:24 SA ngày 11/09/2017
Không có cồng chiêng không có hội lễ, không có cồng chiêng không có hát xường, đánh đang. Không có cồng chiêng người già chết đi hồn ma không biết lối về trời, người trẻ thương nhau không ai đến chứng giám thành duyên. Tiếng cồng chiêng ăn sâu trong tiềm thức, trở thành một phần tâm hồn tôi và làm tôi luôn đau đáu nhớ.

 

 Tiếng cồng chiêng đột ngột vang khắp bản Ngù lúc quá trưa vào một ngày bình thường, không phải hội hè, đám lễ, cũng không phải tiếng chiêng ma, làm tôi quá đỗi ngạc nhiên và tò mò. Dù đang mê mệt giấc dở sau chuyến đi dài từ Hà Nội về, tôi vẫn bật dậy đi ra gian ngoài thắc mắc với bố mẹ. Bố tôi hào hứng trả lời: À tiếng chiêng báo họp người cao tuổi bản mình đấy. Mường mình bây giờ phong trào khôi phục, giữ gìn văn hóa truyền thống hăng lắm. Từ hội họp, đám cưới, đám vía, lễ tết, ăn mừng nhà mới là cứ cồng chiêng thôi. Loa đài, nhạc nhẽo sập sình của các anh chị về Mường giờ lỗi thời rồi nhé. Ông cụ cười thích chí rồi cõng đứa cháu con thằng em út xuống thang, thoăn thoắt như trai trẻ đi về phía tiếng cồng chiêng.

Bố vừa đi khỏi, mẹ nói với tôi: Họp các cụ thôi, nhưng ra nhà văn hóa mà xem, chả khác gì lễ hội cả. Các cụ múa rặng, nhảy pồn pông (1), đánh chiêng cồng, hát xường, đang (2) vang núi ngay giờ ấy. Lời mẹ vừa nói cùng với tiếng chiêng đang dồn giục, nao nức làm tôi không còn muốn quay vào buồng ngủ tiếp, ra bể nước vội vàng rửa mặt rồi chạy theo bố sang nhà văn hóa bản.

Bản Ngù của tôi nằm ở ven dãy núi dài cuối mường Tạ, đây là một mường nhỏ của huyện Ngọc Lặc. Mường Tạ là một vùng Mường gốc cổ, được bao bọc xung quanh bởi các mường lớn  khác, Mường Rặc ở phía Đông,  Mường Lai ở phía Nam, phía Bắc có Mường Yến, Mường Lập. Đặc biệt huyện Bá Thước, cách mường Tạ tôi chừng 50km về phía Tây là một vùng mường lớn, nơi nguồn cội sinh ra sử thi “Đẻ đất đẻ nước” vĩ đại với các tên quen như Mường Ống, Mường Ai, Mường Kí... Với đặc điểm đó, Mường Tạ tuy nhỏ nhưng vẫn mang trong mình thấm đẫm và giữ được lâu bền nền văn hóa Mường cổ, có được nét đặc trưng từ trong nếp sống, sinh hoạt, tập tục, ngôn ngữ...

Tôi lớn lên trong cái nôi văn hóa đậm đà, đẹp đẽ ấy, nên yêu mê văn hóa dân tộc mình như hơi thở. Đặc biệt là văn hóa cồng chiêng, linh hồn của văn hóa bản Mường. Không có cồng chiêng không có hội lễ, không có cồng chiêng không có hát xường, đánh đang. Không có cồng chiêng người già chết đi hồn ma không biết lối về trời, người trẻ thương nhau không ai đến chứng giám thành duyên. Tiếng cồng chiêng ăn sâu trong tiềm thức, trở thành một phần tâm hồn tôi và làm tôi luôn đau đáu nhớ.

Chẳng thể nào quên được cái giật thót bởi tiếng cồng chiêng ma bất chợt. Bắt đầu bằng một hồi trống, rồi cất lên theo là tiếng trầm buồn “bồng bênh” của chiêng cồng. Khi ấy, tất thảy mọi người trong bản đang làm việc cũng ngưng tay. Tiếng cồng chiêng thay lời báo tin, nó như lời từ biệt, lời chào ngân trầm, bịn rịn, nghẹn ngào, da diết của người vừa ra đi. Làm cho cả người dưng, chẳng phải máu mủ gì cũng bật khóc, cũng ngưng bỏ việc nhà mà chạy đến cùng lo hậu sự và chia buồn với tang chủ.

Chẳng thể quên được tiếng chiêng lúc nửa đêm, đột ngột vang lên dồn hồi rộn rã, réo thức làm người người bừng tỉnh. Tất thảy nhà nhà lúc ấy dậy thắp đèn. Phải đi thôi, đốt đóm đi thôi, nhà ai đó đã vừa có con dâu mới. Tiếng cồng chiêng của đám chạy theo là một thứ âm thanh rất đặc biệt. Bắt đầu bằng một hồi chiêng thật ròng giòn, dồn dập, nó làm lòng người cứ rộn lên, bồi hồi, náo nức chẳng thể nào giữ nổi chân ở nhà, kệ lúc đó là khuya khoắt, mưa lạnh hay trăng thanh. Trước kia, ở Mường những nhà nghèo không có đủ tiền làm đám cưới, không đủ của để nộp cheo thách cưới cho nhà gái, chàng trai hay rủ cô gái chạy theo về nhà mình. Chỉ cần phong trầu, chai rượu để ở cầu thang nhà cô gái, là chàng trai có thể dắt theo nàng về làm vợ ngay trong đêm. Sáng ra nhìn thấy lễ vật ở đầu thang đủ biết con gái mình đã theo chồng. Và dù ưng thuận hay không, bố mẹ cô gái cũng đành ngồi đợi nhà trai đem ông mơ và lễ vật đến báo cáo cho hai trẻ nên duyên. Đám chạy theo là một lễ tục thành hôn mà những gia đình nghèo khó hay làm. Một trong những thủ tục lễ nghi nhất thiết phải có là đánh trống chiêng báo mường, báo bản. Trước khi đi gặp cô gái, chàng trai sẽ báo riêng cho gia đình biết để ở nhà chuẩn bị treo cồng chiêng. Ngay khi cô dâu về đến chân thang thì tiếng cồng chiêng bắt đầu vang lên thật lớn, đủ để đánh thức cả bản cùng biết mà đến chơi. Thường hoạt động này kéo dài từ một đến ba ngày, cho đến khi tin vui vang lan đến tận làng trên, bản dưới. Tôi nhớ một kỷ niệm hồi chừng mười hai, mười ba tuổi gì đó. Vào một đêm khuya khoắt mùa đông. Đang ngủ bỗng thấy bố tôi dậy thắp đèn, trong cơn ngái ngủ tôi vẫn nghe rất rõ tiếng cồng chiêng rộn rã phía làng. Bố tôi dậy mặc quần áo, bảo với mẹ: Mế nó ở nhà với bọn trẻ nhé, tôi đi xem đứa nào vừa lấy vợ chạy theo rồi. Mấy mẹ con tôi nằm lại nhà cũng chẳng thể ngủ được, lòng rộn rạo thao thức theo từng nhịp chiêng trống tưng bừng, chỉ mong trời sáng nhanh mà đến xem cô dâu. Sớm đó, bố tôi về với gương mặt rạng rỡ, chưa lên hết thang đã nói như khoe: Chà, hai anh em nhà thằng Veng cùng rước vợ, giỏi thật, hai đứa yêu hai cô con gái cùng bản tận mường Yến, đêm qua chúng nó rủ nhau rước vợ chạy theo cả. Nhà bác Sáng nơm nớp lo chẳng thể lo đám cưới cho một đống con trai, con gái lớn, giờ có một lúc tới hai dâu rồi. Lần đó, tôi nhớ nhà anh Veng chơi cồng chiêng hết ba ngày, ba đêm.

Trước kia, mỗi khi lễ tết, hội mường, tiếng chiêng cồng vang rền từ tinh mơ đến đêm muộn. Tiếng chiêng cồng gọi bạn mường trên, rủ anh em mường dưới đến cùng chơi cây bông, cây hoa(3), cùng hát xường, múa rặng, ném còn... để mà thăm nhau, mà mừng chúc năm mới, rồi nên đôi thành bạn. Tiếng cồng chiêng còn rền vang thì chân người còn múa ngoài hội, lửa còn cháy giữa sân làng, các trò chơi diễn ra không biết mỏi, lời hát, điệu múa không muốn ngưng. Không có cồng chiêng thì không làm nên hội, không có cồng chiêng hội chẳng phải hội Mường.

Tôi nhớ, chừng mươi năm về trước, với sự du nhập ồ ạt, chóng vánh của văn hóa hiện đại, đặc biệt sau đó với chủ trương đô thị hóa huyện Ngọc Lặc thành đô thị miền Tây của tỉnh. Mường Tạ cùng với các mường khác quanh thị trấn được quy hoạch sát ven, một vài bản làng nằm trong khu quy hoạch trực tiếp. Do đó sự xâm nhập của văn hóa hiện đại, văn hóa lai căng ập đến một cách chóng mặt. Văn hóa bản mường không thể cưỡng cự, nhưng lại không kịp thích nghi cho phù hợp và có chọn lọc, làm nó trở nên lai tạp, dở dở ương ương, nhập nhòa lộn xộn. Văn hóa truyền thống của bản mường lúc này như con cá bơi ngược dòng nước, oằn mình để đi về phía nguồn, nhưng dòng chảy xuôi lại mỗi lúc một mạnh. Những năm sau đó, đời sống vật chất và tinh thần của dân bản bị kinh hóa mạnh mẽ. Các tập tục, các nét văn hóa, sinh hoạt bản sắc bị mai một rõ ràng, văn hóa cồng chiêng đã có lúc bị mờ nhạt, thậm chí chìm lặng dưới sự lấn át, xâm nhập quá nhanh của văn hóa đô thị, lai tạp nửa mùa. Hội hè, đình đám đâu đâu cũng chỉ có sập sình loa đài, nhảy nhót,  karaoke. Mỗi lễ hội, tết xuân, sân làng vẫn rập rình ồn ã, nhưng là sự ồn ã của hàng quán bán đồ chơi, đồ ăn uống, của những trò chơi kinh doanh, kiếm tiền của người xuôi, chiếm tràn lan khắp sân hội. Những bóng dáng áo khóm, váy sại, khăn xèng, với các trò diễn truyền thống như tung còn, múa rặng, đánh trống chiêng  bị át đi, trở nên yếu thế, mờ nhạt ở một góc sân nào đó. Hội mường chỉ còn cái tên mà không còn linh hồn.

Tôi từng đem sự tiếc nuối như mất mát ấy theo mình suốt những tháng ngày xa quê, mà chẳng dám nghĩ có một ngày trở về lại nhìn thấy nó sống tươi mới trong mỗi tâm hồn người bản mình. Ngồi như mê ngợp trong giai âm cồng chiêng rộn rã, trong tiếng hát xường đối đáp ngọt ngào, trong tiếng xập xèng khăn múa của các cụ ở sân nhà văn hóa, tôi thấy lòng rưng rưng mà sung sướng đến kỳ lạ. Cụ Kỳ, chi hội trưởng hội người cao tuổi bản tôi cho biết: Làng họp bất kỳ cuộc gì mọi người cũng đến trước một hai giờ đồng hồ để vui cồng chiêng, múa hát văn nghệ đã rồi mới họp. Họp xong còn sớm lại chơi vui tiếp cho đến chập tối mới rủ nhau về. Bà cố Tưởng năm nay đã hơn tám mươi, là một nghệ nhân hát xường hay nhất bản tôi, vui vẻ tâm sự: Không có tiếng cồng chiêng thì xường không nên điệu, đang chẳng thành câu được, mấy năm bà Tưởng không hát được nữa, nhưng bây giờ cứ ở đâu có tiếng cồng chiêng là bà đi. Bà  vừa móm mém nhai trầu vừa cười tít.

Chú Phạm Văn, trưởng bản Ngù cho biết, tinh thần giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc được bà con thực hiện hứng khởi lắm. Nhà nào có việc vui, việc lớn cũng giăng chiêng cồng lên mời cả bản đến chơi. Bản mình còn có hẳn đội văn nghệ truyền thống đấy, năm nào hội diễn mùa xuân ở huyện, ở xã là cũng tham gia.

Tôi rời nhà văn hóa bản trong dư âm của tiếng chiêng cồng còn vẳng vọng. Câu nói như thông điệp nhắn nhủ của trưởng bản Văn với bà con “còn cồng chiêng là linh hồn mường còn, linh hồn mường còn thì bản mường mới thật sự tồn tại” làm tôi thấy vững lòng tin. Bản mường sẽ trường tồn mãi mãi như sử thi “Đẻ đất đẻ nước”  vĩ đại của dân tộc tôi.                                                            

 

(1): Múa rặng, nhảy pồn pông: Các hoạt động nhảy múa, biểu diễn truyền thống của người Mường.

(2): Xường, đang: Các làn điệu dân ca Mường.

(3): Cây bông, cây hoa: Là đạo cụ biểu diễn làm bằng gỗ dùng kèm với hát, múa  dân ca và đánh cồng chiêng.


  Chia sẻ: Share on Facebook Google Share on LinkHay Share on Go Share on Zing